33. Sớ Cúng Trai Tuần Chồng
(Tam Bảo Từ Tôn)
Nguyên văn:
伏以
三寶慈尊、廣濟幽冥之苦、...旬甫至、深恩薦拔之誠、感念良君、仰陳聖德。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家堂奉
佛修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干
大覺能仁、俯垂炤鑒。
奉爲...之香靈。仝承
佛法以弘深、全賴經文而解脫。鳴呼、質慚鄙婦、緣配良君、糟糠不忽於下堂、蘋藻敢忘於內助、但約百年好合、三生香火有餘緣、豈期半枕暌離、一旦北南頓異、嘆爾何期而復覩、嗟呼幾刼以相親、慨想音容、貽千古義、奚足答昇還影響、永長空情愈堪悲。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏
南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。
南無接引導師阿彌陀佛作大證明。
南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。
南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、悲心廣蕩、濟苦海之慈航、妙力弘深、炤昏衢之慧日、惟冀眞靈承期寶筏、長徃樂邦、十地法雲、導出娑婆之境、九天仙女、迎歸兜率之宮、用意瀀游、隨心自在。仰賴
佛恩、證明之不可思議也。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Tam Bảo từ tôn, quảng tế U Minh chi khổ; … tuần phủ chí, thâm ân tiến bạt chi thành; cảm niệm lương quân, ngưỡng trần Thánh đức. Sớ vị:
Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng
Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.
Phụng vị … chi hương linh.
Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Ô hô ! Chất tàm bỉ phụ,1 duyên phối lương quân; tào khang2 bất hốt ư hạ đường, tần tảo cảm vong ư nội trợ; đản ước bách niên hảo hợp, tam sanh3 hương hỏa hữu dư duyên, khởi kỳ bán chẩm4 khuê ly,5nhất đán bắc nam đốn dị; thán nhĩ hà kỳ nhi phục đổ, ta hồ kỉ kiếp dĩ tương thân; khái tưởng âm dung, di thiên cổ nghĩa; hề túc đáp thăng hoàn ảnh hưởng, vĩnh trường không tình dũ kham bi. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.
Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.
Phục nguyện: Bi tâm khoáng đãng, tế khổ hải chi từ thuyền; diệu lực hoằng thâm, chiếu hôn cù chi huệ nhật; duy kí chơn linh thừa kỳ bảo phiệt, trường vãng Lạc Bang;6 Thập Địa7 Pháp Vân, đạo xuất Ta Bà chi cảnh; Cửu Thiên Tiên Nữ,8 nghênh quy Đâu Suất chi cung; dụng ý ưu du, tùy tâm tự tại. Ngưỡng lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.
Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
- Bảo từ tôn, rộng cứu tối tăm khổ não; tuần … lại đến, ơn sâu tiến cúng kính thành; cảm niệm chồng hiền, ngưỡng trông Thánh đức.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:
Hương linh ...
Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.
Than ôi ! Thẹn thân gái mọn, duyên gặp chồng hiền; tào khang nào nỡ phụ bạc nơi nhà sau, tần tảo nào quên công nội trợ; chỉ nguyện trăm năm chung hợp, ba đời hương khói vẫn còn duyên; nào lúc nữa gối chia ly, một sớm nam bắc nẻo khác; than thở lúc nào mong gặp lại, xót xa mấy kiếp mới gần nhau; tưởng nhớ bóng hình, lưu ngàn năm nghĩa; sao đáp trọn ân tình ảnh hưởng, mãi trời xa tình càng thấm đau. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:
Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.
Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.
Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.
Lại nguyện: Tâm thương rộng khắp, độ biển khổ nương thuyền từ; sức mầu cao sâu, chiếu đường mê nhờ trời huệ; chỉ mong hương linh cỡi lên bè báu, mãi qua Lạc Bang; Pháp Vân Mười Địa, dẫn ra Ta Bà cõi tạm; trên trời tiên nữ, đón về Đâu Suất Thiên Cung; theo ý ngao du, tùy tâm tự tại. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Bỉ phụ (鄙婦): từ khiêm tốn, hạ mình, chỉ cho người vợ hèn mạt, thấp kém. Câu “chất tàm bỉ phụ, duyên phối lương quân (質慚鄙婦、緣配良君)” có nghĩa là thật hổ thẹn với phẩm chất người phụ nữ hèn hạ, thấp kém; nhưng may mắn thay gặp duyên lành, được phối hợp với người chồng tốt.
- Tào khang (糟糠): bã rượu và cám gạo. Đây là hai loại thức ăn rất nghèo nàn, thô mạt dùng cho heo ăn; nhưng đối với nhà bần hàn, cùng cực thì cũng dùng hai loại thức ăn nầy để sống, vậy mà vẫn không ăn đủ no; cho nên có câu “tào khang bất bão (糟糠不飽, bã rượu và cám gạo nghèo hèn mà vẫn không ăn no đủ).” Ngạn ngữ của Trung Hoa vẫn thường có câu “tào khang chi thê bất hạ đường (糟糠之妻不下堂)”, nghĩa là đối với người vợ đã cùng với mình trãi qua thời gian sống cơ hàn, ăn thức ăn thô hèn như bã rượu và cám gạo, thì lúc khá giả, sung túc không nên bạc đãi cho xuống nhà dưới ở, mà phải biết quý trọng hơn nữa. Câu nầy phát xuất từ trong Hậu Hán Thư (後漢書) quyển 26, Truyện Tống Hoằng (宋弘傳): “Thần văn bần tiện chi tri bất khả vong, tào khang chi thê bất hạ đường (臣聞貧賤之知不可忘、糟糠之妻不下堂, thần nghe rằng quen biết lúc nghèo cùng thì không thể quên, người vợ cùng chung cực khổ thì không thể bạc đãi cho xuống nhà dưới).” Trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林) có câu: “Bất khí tào khang, Tống Hoằng hồi Quang Võ chi ngữ (不棄糟糠、宋弘回光武之語, không được bỏ người vợ cùng chịu cực khổ với mình lâu nay, đó là lời nói của Tồng Hoằng làm chi vua Quang Võ hồi tâm)”
- Tam sanh (三生): ba đời, đời trước, đời nầy và đời sau. Trong dân gian Trung Quốc có câu ngạn ngữ “tam sanh hữu hạnh (三生有幸, ba đời gặp may)”, vốn xuất phát từ câu chuyện của vị cao tăng thời nhà Đường. Lúc bấy giờ, có một Hòa Thượng hiệu là Viên Trạch (圓澤), thông hiểu kinh luận, thâm giao với Lý Nguyên Thiện (李源善). Có hôm nọ, hai người cùng đi ngao du sơn thủy, đến địa phương nọ, chợt thấy một người phụ nữ đang múc nước bên bờ sông, bụng người đó rất lớn, đang mang thai. Viên Trạch đưa tay chỉ người phụ nữ ấy bảo với Lý Nguyên Thiện rằng: “Người ấy mang thai đã ba năm rồi, đang chờ ta chết đi đầu thai vào. Nay gặp bà ấy, ta chẳng biết dùng biện pháp nào để tránh được đây ? Ba ngày sau, khi người phụ nữ ấy sanh con xong, đúng lúc ấy mong ngươi hãy đến nhà bà ta xem thử, như quả thật đứa hài nhi nhìn ngươi mà nở nụ cười, đó chính là ta. Hãy lấy nụ cười đó làm bằng chứng nhé ! Đợi đến mười ba năm sau, vào đêm trăng Trung Thu, ta sẽ chờ ngươi tại Thiên Trúc Tự (天竺寺), Hàng Châu (杭州). Lúc ấy chúng ta lại gặp nhau nhé !” Sau khi hai người chia tay, quả nhiên đêm ấy Viên Trạch viên tịch; đồng thời người phụ nữ kia cũng hạ sanh một hài nhi. Ba hôm sau, nhớ lời dặn của Viên Trạch, Lý Nguyên Thiện đến nhà người phụ nữ kia xem thử hư thực thế nào, và quả nhiên đứa bé nhìn ông nở nụ cười. Vào một đêm trăng sáng Trung Thu của mười ba năm sau, Lý Nguyên Thiện tìm đến Thiên Trúc Tự. Vừa đến cổng chùa, ông thấy có một chú mục đồng ngồi trên lưng trâu, nghêu ngao hát câu: “Tam sanh thạch thượng cựu tình hồn, thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luân, tàm quý tình nhân viễn tương phỏng, thử thân tuy dị tánh thường tồn (三生石上舊情魂、賞月吟風不要論、慚愧情人遠相訪、此身雖異性常存, ba đời trên đá tình cũ hồn, trăng ngắm gió ngâm chẳng luận bàn, hổ thẹn người xưa xa đến viếng, thân nầy tuy khác tánh vẫn còn).” Vì vậy, hiện tại người ta thường dùng câu “tam sanh hữu hạnh” để tỷ dụ cho trường hợp có duyên phận rất đặc biệt; hay bạn bè do một cơ duyên ngẫu nhiên nào đó gặp nhau và trở thành tri kỷ. Câu “đản ước bách niên hảo hợp, tam sanh hương hỏa hữu dư duyên (但約百年好合、三生香火有餘緣)” có nghĩa là chỉ ước mong sao trăm năm hòa hợp chung sống với nhau, nay ba năm lo phụng thờ hương khói, dầu đã mãn tang nhưng vẫn còn duyên phận với nhau hoài.
- Bán chẩm (半枕): nằm nửa gối, tựa bên gối. Như trong Tây Du Ký (西遊記) có câu: “Bán chẩm tùng phong trà vị thục, ngâm hoài tiêu sái mãn khang xuân (半枕松風茶未熟、吟懷瀟灑滿腔春, nữa gối gió tùng trà chửa nóng, ngâm buồn thấm đượm khắp trời xuân).” Hay trong bài Tây Sơn Sảng Khí (西山爽氣) của Tạ Thái Định (謝泰定, ?-?) nhà Minh cũng có câu: “Bích thiên mông vũ trạc thu không, nhất Táo trà yên bán chẩm phong (碧天蒙雨濯秋空、一灶茶煙半枕風, trời xanh mưa đỗ tưới sắc thu, ông Táo khói trà tựa gối mơ).”
- Khuê ly (暌離): cách xa, rời xa, xa lìa. Như trong bài Tú Quy Hình Thi (繡龜形詩, Toàn Đường Thi, quyển 799) của Hầu Thị (侯氏) nhà Đường có câu: “Khuê ly dĩ thị thập thu cường, đối kính na kham trùng lí trang, văn nhạn kỉ hồi tu xích tố, kiến sương tiên vị chế y thường(暌離已是十秋強、對鏡那堪重理妝、聞雁幾回修尺素、見霜先爲制衣裳, xa lìa vốn đã mười thu hơn, nhìn kính cần chi phấn sáp thơm, nghe nhạn bao lần mong thư tín, thấy sương vội vã chế y thường).” Hay trong Gia Đình Bảo Phiệt (家庭寶筏) do Biệt Tiều Cư Sĩ (別樵居士) ở Hán Dương (漢陽) biên soạn có đoạn: “Lưu lạc viễn phương, sử kỳ phụ mẫu khuê ly, thậm hoặc tử ư đố phụ chi thủ, luân ư dâm xướng chi gia (流落遠方、使其父母暌離、甚或死於妒婦之手、淪於淫娼之家, lưu lạc phương xa, khiến cho xa lìa cha mẹ, thậm chí chết trên tay người nữ đố kỵ, hay rơi vào nhà xướng hát bán dâm).”
- Lạc Bang (樂邦): hay Lạc Quốc (樂國), Cực Lạc Quốc (極樂國), chỉ cho thế giới an lạc của đức Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀). Như trong Lạc Bang Di Cảo (樂邦遺稿, Taishō No. 1969B) do Sa Môn Tông Hiểu (宗曉, 1151-1214) nhà Nam Tống biên soạn, có đề cập rằng: “Lương do Di Đà ngộ ngã tâm chi bảo sát, ngã tâm cụ Di Đà chi Lạc Bang, tuy viễn nhi cận bất ly nhất niệm, tuy cận nhi viễn quá thập vạn ức sát (良由彌陀悟我心之寶剎、我心具彌陀之樂邦、雖遠而近不離一念、雖近而遠過十萬億剎, đều do Di Đà làm cho ngộ cõi báu trong tâm ta, tâm ta có đủ cõi Lạc Bang của Di Đà, tuy xa mà gần, chẳng rời một niệm, tuy gần mà xa, quá mười vạn ức cõi nước).” Hay như trong Khuyến Tu Tịnh Độ Thi (勸修淨土詩) của Thật Hiền Tỉnh Am (實賢省庵, 1686-1734) nhà Thanh, tổ sư thứ 11 của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, có câu: “Khổ hải vô biên hà nhật xuất, Lạc Bang hữu lộ kỉ thời hoàn (苦海無邊何日出、樂邦有路幾時還, biển khổ vô biên ngày nao thoát, Lạc Bang có lối lúc nào về).”
- Thập Địa (s: daśa-bhūmi, 十地): tính từ quả vị thứ 41 đến 50 trong 52 quả vị (gồm Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác) tu hành của vị Bồ Tát. Thập Địa là 10 quả vị được thuyết trong Phẩm Thập Địa (十地品) của Kinh Hoa Nghiêm (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經), gồm có Hoan Hỷ Địa (s: pramudhitā-bhūmi, 歡喜地), Ly Cấu Địa (s: vimalā-bhūmi, 離垢地), Phát Quang Địa (s: prabhākarī-bhūmi, 發光地), Diệm Huệ Địa (s: arciṣmatī-bhūmi, 焰慧地), Cực Nan Thắng Địa (s: sudurjayā-bhūmi, 極難勝地), Hiện Tiền Địa (s: abhimukhī-bhūmi, 現前地), Viễn Hành Địa (s: dūraṅgamā-bhūmi, 遠行地), Bất Động Địa (s: acalā-bhūmi, 不動地), Thiện Huệ Địa (s: sādhumatī-bhūmi, 善慧地) và Pháp Vân Địa (s: dharmameghā-bhūmi, 法雲地), và được gọi là Hoa Nghiêm Thập Địa. Trong các Kinh Bát Nhã, v.v., cũng có nói về Thập Địa cọng thông cả ba thừa, với tên gọi khác là Càn Huệ Địa (乾慧地), Tánh Địa (性地), Bát Nhân Địa (八人地), Kiến Địa (見地), Bạc Địa (薄地), Ly Dục Địa (離欲地), Dĩ Biện Địa (己辨地), Bích Chi Phật Địa (辟支佛地), Bồ Tát Địa (菩薩地) và Phật Địa (佛地).
Cửu Thiên Tiên Nữ (九天仙女): tiên nữ trên chín tầng trời, hay chỉ cho người có sắc đẹp tuyệt trần, hoàn toàn khác với Cửu Thiên Huyền Nữ (九天玄女), nữ thần trong truyền thuyết thần thoại của Trung Quốc cổ đại. Như trong Kim Tiền Ký (金錢記) của Kiều Cát (喬吉, 1280?-1345) nhà Nguyên có câu: “Nhĩ khán thử nữ phi phàm, chơn nãi Cửu Thiên Tiên Nữ dã (你看此女非凡、眞乃九天仙女也, ngươi xem người con gái nầy phi phàm, quả đúng là tiên nữ trên trời vậy).” Trong tác phẩm Kiếm Thần Nhất Tiếu (劍神一笑) của Cổ Long (古龍, 1938-1985) có chương thứ 7 “Cửu Thiên Tiên Nữ Hạ Phàm Trần (九天仙女下凡塵, tiên nữ trên trời xuống phàm trần).”